Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Nhạc Lossless

 Tìm hiểu Nhạc Chất Lượng Cao MP3 320Kbps, AAC, Lossless

 

Phần I - MP3 320 Kbps
Nhạc chất lượng cao như đại đa số chúng ta biết là những file nhạc MP3 có chỉ số bit-rate Kbps (Kb/s) cao phổ biến nhất là 320Kbps, những file nhạc này có dung lượng lớn tầm 8MB trở lên - nói ngắn gọn là MP3 320 Kbps. Ai mới biết về nhạc chất lượng cao là khoái cái món MP3 320 Kbps lắm nha, săn lùng trên nhacso hay nhaccuatui ghê ak :)
Nhưng cơ mà một thực tế "quá phũ cho đội bán đậu hũ" (nói vui thôi ^^) là những chỉ số Kbps hay dung lượng file lại... chả nói lên điều gì, cả chỉ số Kpbs và dung lượng file đều không phải là cơ sở để chúng ta đánh giá chất lượng của file nhạc. Đến đây chắc bạn cần một "Ví von Dụ" để kiểm chứng nhỉ ^^, ok tôi sẽ cho các bạn kiểm chứng ngay và luôn:
Trước khi bắt đầu bạn hãy tải file nhạc này về > Click để Download <, đây là file nhạc bài Nhớ Em - Minh Vương có chất lượng 320Kbps và dung lượng 13MB, các thông số cơ bản các bạn có thể xem hình dưới (không cần xem cũng được :D)




Hãy tải về, nghe và so sánh với bản 128Kbps trên Zing Mp3: http://bit.ly/i99lny

Nghe xong chắc các bạn có thể nhận định bản 320Kbps mà tôi cung cấp nghe quá tệ so với bản 128Kbps của Zing nhỉ :D. Vâng xin thú thật với các bạn file MP3 320Kbps trên là "do tôi tạo ra" hay nói lịch sự hơn nó là "hàng giả" ^^, vậy nhận định MP3 320Kbps là nhạc chất lượng cao là đúng nhưng nó chỉ đúng với "hàng thật" mà thôi và còn nhiều định đạng nhạc khác cho chất lượng cao hơn, cái mà chúng ta bị đánh lừa chính là chỉ số Kbps, để hiểu rõ hơn về chỉ số Kbps (Kbit/s) xin mời các bạn tìm hiểu Phần II.

Phần II - Bit-rate là gì?
Chúng ta thường nghe về nhạc MP3 128 Kbps, 192 Kbps, 256 Kbps, 320 Kbps... vậy Kbps là cái giề????  Kbps tên gọi chung là Bit-rate, Bit-rate là số bit mà máy tính cần xử lý trong một giây, đơn cử như nhạc 128 Kbps thì yêu cầu máy tính phải xử lý 128000 bit/giây (vì 1 Kbps = 1000 bit/giây), tương tự với nhạc 320 Kbps thì máy tính phải xử lý ở mức độ cao hơn là 320000 bit/giây. Vậy có thể kết luận nhạc chất lượng càng cao thì số Kbps càng cao không? Tôi sẽ trả lời ở cuối phần này. Bây giờ tôi phân tích sâu chút về thằng bit-rate này (bạn có thể bỏ qua), bit-rate trong nhạc số có 3 loại:

1, Constant bitrate (CBR): mấy bản nhạc rất phổ biến trên các web nhạc online mà chúng ta hay gọi là MP3 128 Kbps hay 320 Kbps chính là loại được mã hóa Constant bitrate (CBR), Constant bitrate là loại bit-rate cố định, tức với một file nhạc 128 Kbps bất kỳ thì máy tính luôn luôn xử lý 128000 bit/giây xuyên xuốt từ đầu đến cuối bài hát... điều đáng bàn là với những đoạn không có nhạc (thường là mở đầu và kết thúc bài hát) hoặc những đoạn trầm bổng nhác nhau trong ca khúc thì máy tính vẫn phải xử lý 128000 bit/giây, như vậy là lãng phí dung lượng CPU, lại còn thêm cái khoản lúc trầm lúc bổng thì ca khúc nào chả có mà ông máy tính thì cứ phải phang nguyên cái khung 128000 bit/giây hậu quả nhạc nghe thiếu chiều sâu, độ nảy kém và không chân thực. Mà lại tốn dung lượng file nhạc.

 2, Average bitrate (ABR): Loại ABR này tiên tiến hơn loại CBR ở chỗ nó có khả năng tùy biến bit-rate, tức là những đoạn nhạc trầm bổng khác nhau thì số Kbps sẽ được thay đổi cho phù hợp, với những đoạn nhạc nhẹ nhàng thì bit-rate sẽ thấp còn những đoạn nhạc mạnh thì bit-rate sẽ cao, như vậy sẽ hạn chế lãng phí của CPU, giúp bản nhạc nghe chân thực hơn, ABR ra đời nhằm tạo ra những bản nhạc vừa có tùy biến bit-rate lại vừa có dung lượng tương đương với CBR nên khả năng tùy biến bit-rate của ABR không thực sự tốt, vì có chút tùy biến bit-rate nên dung lượng của ABR nhẹ hơn CBR chút xíu. Nói chung loại này nói để biết chứ các bạn không cần quan tâm, cái cần quan tâm là loại thứ 3 sau đây.

3, Variable bitrate (VBR): Mục đích của loại mã hóa VBR là tạo ra những file nhạc có tùy biến bit-rate tối ưu nhất (những đoạn nhạc càng nhẹ nhàng thì bit-rate càng thấp và ngược lại những đoạn nhạc càng mạnh thì bit-rate càng cao, nói chung là biến đổi cho phù hợp nhất), qua đó hạn chế tối đa lãng phí CPU và giúp bản nhạc nghe có chiều sâu, độ nảy tốt và tương đối chân thực. Nhờ tối ưu lượng bit-rate nên những file nhạc VBR có dung lượng nhỏ hơn 2 ông CBR và ABR.
* Lưu ý: Vì mã hóa VBR là loại tùy biến bit-rate (Kbps không cố định) nên ta thượng gọi nhạc MP3 loại này là MP3 -V (x) với (x) thay bởi các số từ 0 tới 9, đó là thứ tự chất lượng của VBR với -V 0 = chất lượng cao nhất và -V 9 = chất lượng thấp nhất. Ví dụ với tên MP3 -V 0 thì ta tự hiểu đó là file MP3 VBR chất lượng cao nhất chứ không gọi là 128Kbps hay 320 Kbps như của CBR hay ABR.
● Dưới đây là thông tin các mức chất lượng của các định dạng nhạc thông dụng được mã hóa bit-rate VBR:
- MP3: -V 0 tới 9 (-V 0 chất lượng cao nhất, -V 9 chất lượng thấp nhất)
- OGG: -q -0.1 đến 1 (-q 1 chất lượng cao nhất, -q -0.1 chất lượng thấp nhất)
- Nero AAC: -q 0.05 đến 1.00 (-q 1.00 chất lượng cao nhất, -q 0.05 chất lượng thấp nhất)
● Các định dạng hỗ trợ mã hóa bit-rate VBR:
- MP3: .mp3
- AAC: .aac .m4a .m4b .mp4 .m4p
- ALAC: .m4a
- OGG: .ogg

» Kết luận: Như vậy chúng ta không thể đánh giá chất lượng nhạc thông qua chỉ số bit-rate (Kbps), và câu hỏi đặt ra là làm thế nào hay có cơ sở nào để đánh giá chất lượng nhạc cao hay thấp? hay làm thế nào để nhận biết file MP3 320Kbps là thật hay giả? Cái này Phần III sẽ rõ.

Phần III - Cách kiểm tra chất lượng nhạc
Qua 2 phần đầu chúng ta có thể xác định là không thể đánh giá chất lượng nhạc qua chỉ số bit-rate (Kbps) hay dung lượng file nhạc, ở phần này tôi sẽ giới thiệu với các bạn tiêu chuẩn và cách kiểm tra file nhạc chất lượng cao là thật hay giả thông qua quang phổ (spectral) của file nhạc :)

Lưu ý: Ở bài viết này tôi sử dụng file nhạc thông dụng gồm Bit depth = 16-bit và Sampling rate = 44.1 kHz, với mẫu tần Sampling rate = 44.1 kHz thì sẽ cho âm thanh có tần số 22.05 kHz trong khi như các bạn đã biết giới hạn tần số âm thanh mà tai người có thể nghe thấy là từ 20 Hz đến 20 kHz, thực tế thì 99% nhạc trên thị trường thuộc loại 16-bit/44.1kHz, lý do vì giới hạn tai người căng lắm cũng chỉ đến ngưỡng này, nếu bạn muốn nghe loại cao hơn thì cần có dàn HD khủng + tai thẩm âm tốt và một chút tưởng tượng cho tâm hồn phong phú ^^. Bit depth chúng ta không cần quan tâm :)

Nếu bạn có trình độ thẩm âm tốt với thính giác có thể phân biệt nhạc cao nhạc thấp thì tôi không dám nói vì tai tôi tương đối là trâu bò húc ^^, ở đây tôi xin giới thiệu cách kiểm tra chất lượng file nhạc qua phần mềm có tên Adobe Audition CS6 (gọi tắt là AU), soft này các bạn có thể mua bản quyền tại http://bit.ly/XKB1mb hoặc muốn dùng free ^^ thì tui mách nhỏ các bạn vào trang http://bit.ly/Ym9um3

Sau khi cài đặt AU hoàn tất, chúng ta mở phần mềm, trên thanh Menu chọn File > Open > Chọn file nhạc cần check sẽ hiện ra như hình dưới (Nếu không hiện ra như hình dưới bạn hãy click vào biểu tượng  trên thanh công cụ (ngay dưới thanh Menu):

Ảnh chụp quang phổ file nhạc MP3 128Kbps (CBR) chất lượng chuẩn với quang phổ = 17 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)
Hình trên là ảnh chụp quang phổ của file nhạc MP3 128Kbps (CBR), 2 dải màu đỏ trong hình chính là quang phổ của 2 kênh mono L và mono R (stereo), nhìn trong hình ta dễ thấy 2 dải quảng phổ này bị cắt ở tần số 17k (17kHz), đó là file MP3 128Kbps (CBR) chuẩn chất lượng với tần số âm đạt 17 kHz. Nếu file nhạc MP3 128Kbps (CBR) có quang phổ thấp hơn tần số 17 kHz thì đó là "hàng giả".




Ảnh chụp quang phổ file nhạc MP3 320Kbps (CBR) chất lượng cao với quang phổ = 20 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)
Hình trên là ảnh chụp quang phổ của file nhạc MP3 320Kbps (CBR) chuẩn chất lượng với tần số âm đạt 20 kHz. Nếu file nhạc 320Kbps có quang phổ thấp hơn tần số 20 kHz thì đó là "hàng giả".




Ảnh chụp quang phổ file nhạc MP3 ~320Kbps (ABR) chất lượng cao với quang phổ = 20 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)
Hình trên là ảnh chụp quang phổ của file nhạc MP3 ~320Kbps (ABR) chuẩn chất lượng với tần số âm đạt 20 kHz. Nếu file nhạc MP3 ~320Kbps (ABR) có quang phổ không đạt tới tần số 20 kHz thì đó là hàng giả.




Ảnh chụp quang phổ file nhạc MP3 -V 0 (VBR) chất lượng cao với quang phổ ~21 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)
Hình trên là ảnh chụp quang phổ của file nhạc MP3 -V 0 (VBR) chuẩn chất lượng với tần số âm đạt ~21 kHz. Nếu file nhạc MP3 -V 0 (VBR) có quang phổ không đạt tới tần số 21 kHz thì đó là hàng giả.




Ảnh chụp quang phổ file nhạc OGG -q 1 (VBR) chất lượng cao với quang phổ ~21.5 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)
Hình trên là ảnh chụp quang phổ của file nhạc OGG -q 1 (VBR) chuẩn chất lượng với tần số âm đạt ~21.5 kHz. Nếu file nhạc OGG -q 1 (VBR) có quang phổ không đạt tới tần số ~21.5 kHz thì đó là hàng giả.




Ảnh chụp quang phổ file nhạc Nero AAC -q 1.00 (VBR) chất lượng cao với quang phổ full 22.05 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)
Hình trên là ảnh chụp quang phổ của file nhạc Nero AAC -q 1.00 (VBR) chuẩn chất lượng với tần số âm đạt 22.05 kHz. Nếu file nhạc Nero AAC -q 1.00 (VBR) có quang phổ không đạt tới tần số 22.05 kHz thì đó là hàng giả.



Ảnh chụp quang phổ file nhạc Lossless chất lượng cao với quang phổ full 22.05 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)
Hình trên là ảnh chụp quang phổ của file nhạc Lossless "chuẩn chất lượng cực cao" với tần số âm đạt 22.05 kHz. Nếu file nhạc Lossless có quang phổ không đạt tới tần số 22.05 kHz thì đó là hàng giả.

● Tổng kết chất lượng nhạc thông qua quang phổ:
- MP3 128 Kbps (CBR): 17 kHz
- MP3 320 Kbps (CBR): 20 kHz
- MP3 ~320 Kbps (ABR): 20 kHz
- MP3 -V 0 (VBR): 21 kHz
- OGG -q 1 (VBR): 21.5 kHz
- Nero AAC -q 1.00 (VBR)22.05 kHz (sẽ giới thiệu ở Phần V)
- Lossless: 22.05 kHz (sẽ giới thiệu ở Phần V)

● Thứ tự chất lượng nhạc của các loại mã hóa (từ thấp đến cao):
MP3 128Kbps (CBR) » MP3 320Kbps (CBR) » MP3 ~320Kbps (ABR) » MP3 -V 0 (VBR) » OGG -q 1 (VBR) » Nero AAC -q 1.00 (VBR) » LOSSLESS

● Thứ tự dung lượng file nhạc của cùng 1 bản nhạc (từ thấp đến cao):
MP3 128Kbps (CBR) » MP3 -V 0 (VBR) » MP3 ~320Kbps (ABR) » MP3 320Kbps (CBR) » Nero AAC -q 1.00 (VBR) » OGG -q 1 (VBR) » LOSSLESS

Phần IV - Tìm hiểu về 2 dạng nén nhạc: Lossy & Lossless
1 - Nén nhạc dạng Lossy
 Về cơ bản thì "Lossy là dạng nén làm hao tổn dữ liệu so với bản gốc". Ví dụ nếu dữ liệu gốc là 100% thì khi nén dạng lossy sẽ cho dữ liệu thấp hơn 100%, tức là chất lượng bị giảm so với bản gốc, dữ liệu khi nén dạng lossy sẽ không có khả năng phục hội lại 100% như bản gốc ban đầu.
 Trong lĩnh vực nhạc số, lossy là dạng nén được sử dụng nhiều nhất, nhạc MP3 cũng thuộc loại nén lossy, ta gọi chung những định dạng nhạc sử dụng nén dạng lossy là "Nhạc Lossy". Phần lớn những file nhạc số được Rip từ đĩa nhạc, những file nhạc lossy như MP3 có chất lượng âm thanh kém hơn so với nhạc ở đĩa. Tuy nhiên nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà các chuẩn nén Losssy được cải tiến với chất lượng cao hơn, đỉnh cao của nhạc Lossy là AAC (Advanced Audio Coding) với chất lượng gần bằng đĩa gốc.

- Ưu điểm của lossy: Ưu điểm lớn nhất của nén dạng lossy là giúp giảm đáng kể dung lượng so với bản gốc, chẳng hạn file nhạc gốc có dung lượng 30MB thì khi nén qua lossy dung lượng chỉ còn 3MB giúp giảm bộ nhớ lưu trữ, nhờ ưu điểm này nên nhạc lossy được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như thiết kế phần mềm, game, ứng dụng nghe nhạc online, nghe nhạc cầm tay, nghe qua điện thoại...
- Nhược điểm của lossy: Nhược điểm dễ thấy là chất lượng bị giảm, file nhạc khi nén dạng lossy sẽ cho chất lượng âm thanh kém hơn so với âm thanh của file gốc, nhược điểm thứ 2 là dữ liệu nén dạng lossy sẽ không thể phục hồi trở lại như dữ liệu gốc ban đầu.

● Một số định dạng nhạc (âm thanh) sử dụng nén dạng lossy:
- MP2: .mp2
- MP3: .mp3
- AAC: .aac .m4a .m4b .mp4 .m4p .m4v .m4r .3gp
- OGG: .ogg .oga .opus .spx
- WMA: .wma
- ATRAC: .aea .aa3 .oma .at3
- MPC: .mpc .mpp .mp+

2 - Nén nhạc dạng Lossless
 Trái ngược với Lossy, "Lossless là dạng nén không làm thất thoát dữ liệu so với bản gốc". Nếu dữ liệu gốc là 100% thì khi nén dạng lossless sẽ cho dữ liệu nguyên vẹn 100% như bản gốc (giống như khi ta nén dữ liệu vào file .zip thì khi giải nén dữ liệu vẫn nguyên vẹn), nhờ vậy dữ liệu nén dạng lossless có khả năng phục hồi lại như bản gốc ban đầu.
 Trong nhạc số thì nhạc lossless có chất lượng cao nhất, chất lượng âm thanh của nhạc lossless là ngang bằng với nhạc trong đĩa gốc.

- Ưu điểm của Lossless: Dữ liệu được bảo toàn nguyên vẹn so với bản gốc, đối với nhạc số thì file nhạc lossless cho chất lượng cao nhất. File nhạc lossless dùng để Burn ra đĩa CD với chất lượng ngang hàng với đĩa gốc (nếu có điều kiện burn tốt), dùng để thưởng thức và sưu tầm, nói chung phục vụ giải trí là chủ yếu.
- Nhược điểm của Lossless: Dung lượng file lớn làm tốn nhiều dung lượng lưu trữ, 1 file nhạc lossless thường có dung lượng ~30MB, lớn hơn rất nhiều so với nhạc lossy MP3, vì dung lượng cao như vậy nên nhạc lossless ít được ứng dụng, chủ yếu phục vụ giải trí.

● Một số định dạng nhạc (âm thanh) sử dụng nén dạng lossless:
- FLAC: .flac  .fla
- APE: .ape
- ALAC: .m4a
- WAVE: .wav .wave .w64
- RealAudio: .ra .rm
- Shorten: .shn
- TTA: .tta
- WMA: .wma
- AIFF: .aif .aiff .aifc
- OptimFROG: .ofr .ofs
- WavPack: .wv

3 - Cách nhận biết nhạc Lossy & nhạc Lossless
Chung ta sẽ sử dụng phần mềm AU để kiển tra như đã giới thiệu ở Phần III để nhận biết sự khác biệt giữa Lossless và Lossy, trước tiên tôi sẽ nói qua về tiêu chuẩn CDDA (Compact Disc Digital Audio) và sự liên quan của nó tới tiêu chuẩn chất lượng âm thanh số.

● CDDA (Compact Disc Digital Audio) là tiêu chuẩn âm thanh của đĩa CD (Compact Disc), tiêu chuẩn CDDA chỉ định âm thanh trong đĩa CD cần đảm bảo:
+ Số kênh (channels): 2
+ Độ sâu bit (bit-depth) = 16 bit
+ Mẫu tần (sampling rate) = 44.1 kHz
+ Tần số âm thanh = 22.05 kHz.
Trong 4 yếu tố nêu trên thì 3 yếu tố đầu bao gồm channels - bit-depth - sampling rate là bộ khung cố định đối với nhạc trong CD, duy chỉ có Tần số âm thanh là có thể nhỏ hơn hoặc bằng 22.05kHz, vậy nên Tần số âm thanh là yếu tố quyết định đến chất lượng CDDA.
» Nếu âm thanh có tần số = 22.05 kHz thì đó là âm thanh đạt chuẩn CDDA, ta gọi đó là CDDA 100% tức là âm thanh thuần khiết.
» Nếu âm thanh có tần số < 22.05 kHz ta gọi đó là MPEG, MPEG là âm thanh không thuần khiết chứa tạp âm, thường được dùng để ghép với video.

Trên thực tế phần lớn những hãng thu âm & phát hành đĩa có uy tín đều cho chất lượng âm thanh đạt đúng tiêu chuẩn CDDA, tuy nhiên ở Việt Nam nhiều hãng phát hành đĩa nhạc với chất lượng MPEG (không khác gì đĩa lậu).

● Cách nhận biết nhạc Lossy & nhạc Lossless
- Nhạc Lossless: có chất lượng âm thanh đạt chuẩn CDDA với tần số âm = 22.05 kHz, để kiểm tra file nhạc lossless là thật hay giả chúng ta sẽ kiểm tra quang phổ của chúng, dù sao thì mắt thấy vẫn tốt hơn tai nghe ^^:


Ảnh chụp quang phổ file nhạc Lossless "xịn" với tần số âm = 22.05 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)
Hình trên là ảnh chụp quang phổ thể hiện tần số âm của một file nhạc lossless, như các bạn đã thấy 2 dải màu đỏ (tức tần số âm) đạt mức tối đa là 22.05 kHz (tần số âm = 20.05 kHz thì 2 dải màu trên và dưới dính liền vào nhau), như vậy đây là file nhạc lossless "xịn".


Ảnh chụp quang phổ file nhạc Lossless "giả" với tần số âm < 22.05 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)
Hình trên cũng là ảnh chụp quang phổ thể hiện tần số âm của một file nhạc lossless nhưng tức tần số âm chỉ bằng 20 kHz kHz (tần số âm nhỏ hơn 22.05 kHz thì 2 dải màu trên và dưới không dính liền vào nhau), như vậy đây là file nhạc lossless "giả" (là Lossy làm giả thành Lossless).


- Nhạc Lossy: thường có chất lượng âm thanh MPEG (tần số âm nhỏ hơn 22.05 kHz), trong tất cả các định dạng nhạc lossy chỉ có duy nhất AAC (Advanced Audio Coding) có thể đạt chất lượng âm thanh đúng chuẩn CDDA (tần số âm = 22.05 kHz), tuy nhiên âm thanh nén bằng AAC vẫn bị thất thoát một phần nhỏ dữ liệu so với bản gốc, đó là lý do AAC vẫn chỉ là Lossy. Chất lượng không thể bằng bản gốc (trên lý thuyết).
Dưới đây là ảnh chụp quang phổ của các định dạng Lossy phổ biến:

Ảnh chụp quang phổ file nhạc MP3 128Kbps (CBR) với tần số âm = 17 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)

Ảnh chụp quang phổ file nhạc MP3 320Kbps (CBR) với tần số âm = 20 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)

Ảnh chụp quang phổ file nhạc MP3 -V 0 (VBR) với tần số âm ~21 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)

Ảnh chụp quang phổ file nhạc OGG -q 1 (VBR) với tần số âm ~21.5 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)

Ảnh chụp quang phổ file nhạc Nero AAC -q 1.00 (VBR) với tần số âm =  22.05 kHz
(click vào ảnh để xem kích thước chuẩn)

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Đưa cover vào file Flac
Bài viết này sẽ tập trung vào những vấn đề liên quan đến những công đoạn sau khi rip và chuẩn bị thành phẩm hoàn chỉnh đưa lên tracker.

Như chúng ta đã biết, rip nhạc là một công việc đơn giản, nhưng để đưa được bản rip của chúng ta đến người nghe thì công đoạn tạo thành phẩm sẽ làm tăng chất lượng của bản rip lên nhiều lần. Đôi khi chúng ta chỉ nghĩ, rip nhạc up lên là quí rồi, quan trọng gì phần màu mè đằng sau ấy. Điều này có thể đúng với một số người nhưng mình nghĩ những người sưu tầm nhạc đích thực họ sẽ muốn những gì mình download về phải có bản scan đẹp, có thông tin album đầy đủ, có cover hiện lên trên các loại máy nghe nhạc, etc.

Một phần của những yêu cầu này đã được thực hiện qua những bản rip EAC tốt, và phần còn lại liên quan đến những gì mình sắp trình bày ở đây.

Nội dung bài này gồm 6 phần:

- Scans/chụp hình thế nào cho đẹp và hiệu chỉnh những ảnh scans/ảnh chụp

- Chuẩn bị file cover

- Re-tag các file FLAC (add cover vào các file FLAC)

- Tạo fingerprint (MD5 files) cho các file FLAC

- Tạo file info.txt & share!.txt hoặc do not share elsewhere.txt

- Tạo torrent và upload lên tracker

Các phần mềm cần thiết

1. DBpowerAmp R14: Dùng để edit TAG file FLAC
2. ACDSee Pro3.0: Dùng để chỉnh sửa các bản scans
3. Trader's Little Helper: Dùng để tạo MD5, tạo torrent, ngoài ra có thể dùng để encode, decode qua lại giữa FLAC, WAV, check spectrum cũng rất OK
4. BEncode Editor: dùng để chỉnh file torrent nếu muốn seed 1 torrent lên nhiều tracker khác nhau

Các phần mềm này có thể download tại ALL: http://all.hdvnbits.org/l2bits_tools_t1912.html
[right][size=1][url=http://forum.hdvnbits.org/showthread.php?p=84215]Copyright © HDVNBits Forum - Posted by ha[/url][/size][/right] 
 

Phần 1: Tất cả những vấn đề liên quan đến scans/chụp ảnh
I. Giai đoạn trước khi scan/chụp

* Nếu bạn sử dụng máy scan:

  • Luôn lau sạch bụi trên mặt kiếng. Ngoài ra cũng nên scan thử trước vài cái xác định chiều ra của ảnh để đỡ phải quay hình lại nhiều lần. Thường chúng ta nên để hình ở vị trí ngược để khi scan ra được 1 hình thuận chiều ngay. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng ra được chiều thuận ngay, điều này chỉ đúng khi ta scan bìa sau hoặc CD hoặc những bức ảnh khổ bề ngang nhỏ. Nếu phải scan booklet thì thường chúng ta sẽ phải xoay ngang, như thế nên scan đồng loạt các trang theo 1 chiều nhất định để làm sao khi chúng ta rotate, chỉ phải rotate theo 1 chiều mà thôi, như vậy thao tác theo batch sẽ nhanh hơn nhiều.
  • Chúng ta nên scan ở chế độ 300dpi, có thể lưu file dưới dạng PNG hoặc JPG thì tùy, để cho ra ảnh to và đẹp. Thậm chí nhiều người cầu kỳ, họ scan ở chế độ 600dpi chỉ cho ra dạng file PNG sau đó họ mới giảm xuống 300dpi và lưu thành file JPG sau. Tuy nhiên dù thể nào đi nữa, kích cỡ ảnh thành phẩm cũng chỉ nên dừng ở mức độ từ 500Kb - 2Mb 1 ảnh. Nếu chúng ta có khoảng 10 file ảnh thì nó chiếm tối đa 20Mb, độ khoảng 10% dung lượng của torrent đó là vừa rồi.

* Nếu bạn sử dụng máy chụp ảnh:
(theo kinh nghiệm của xichlo)
  • Ko chụp ngoài nắng, ánh sáng quá mất chi tiết, chụp trong bóng râm
  • Do chụp vật tĩnh nên để tốc độ thật chậm, 1s - 2s cũng ko vấn đề gì, để lấy ánh sáng tự nhiên thật tốt, ko dùng đèn hay ánh sáng nhân tạo.
  • Để Iso thấp nhất có thể cho ảnh mịn (cái này cũng do chụp tĩnh vật mới để được - Iso thấp đồng nghĩa với tốc độ thấp mới đạt đủ ánh sáng) Iso 100 thôi.
  • Quan trọng nhất là để tiêu cự càng dài càng tốt - F200 đổ ra càng ngon vì ảnh sẽ ít bị méo nhất - các bác chụp máy du lịch ống kính góc rộng tiêu cự ngắn rất hay bị méo ảnh. Nhược điểm của góc ống hẹp tiêu cự dài là phải để máy xa vật cần chụp -> Tripod loại "chân càng dài càng tốt" - trường túc bất tri lao
* Chuẩn bị những thứ cần scan/chụp: Tất nhiên là bìa trước, bìa sau, CD, booklet, etc nói chung là theo mình thì có nhiêu ta scan nhiêu. Nếu không còn gì hết thì cũng ráng scan cái CD vậy. Các bạn nên để ý chùi sạch bụi hoặc dấu vân tay của vật thể cần scan, chứ không đưa vào hết thì lại cực giai đoạn hậu kỳ thôi.

II. Giai đoạn sau khi scan/chụp

Sau khi chúng ta đã scan/chụp xong bây giờ phải có khoản chỉnh sửa để có một bản scan/chụp đẹp. Sau khi thử qua nhiều loại phần mềm khác nhau thì mọi người đều nhất trí có 1 phần mềm thích hợp nhất với mục đích chỉnh sửa này đó là ACDSee. Ngoài ra đối với những loại ảnh cần ghép thì đương nhiên là phải dùng đến Photoshop rồi.

Sau khi scan xong, chúng ta bỏ tất cả ảnh scan của 1 album vào thư mục Artwork của album đó và bắt đầu dùng ACDSee để chỉnh sửa



Như trong hình, chúng ta thấy là cần phải xoay ngang lại một số hình, chúng ta chọn những hình cần xoay, nhấn chuột phải và chọn Rotate Clockwise (xoay theo chiều kim đồng hồ) hoặc Rotate counterclokwise (xoay ngược chiều kim đồng hồ) tùy vào chiều của các bản scans. Các bạn thấy đó là lý do tại sao chúng ta chỉ nên scan theo 1 chiều là vậy. Như trong VD của mình thì mình sẽ chọn là Rotate counterclockwise



Sau khi quay hình xong, chúng ta có thể dùng ACDSee để xem có cần phải cắt cúp gì lại hoặc chỉnh sửa độ sáng, độ tương phản gì không. Việc đầu tiên là chúng ta cắt cúp lại hình cho gọn gàng, bỏ những khoảng thừa đi.

1. Crop & Rotate (Cắt và xoay)

Nhấp chuột phải vào 1 file hình bất kỳ trong folder đấy và chọn Process with ACDSee Pro 3:



Màn hình của ACDSee hiện ra thế này, và các bạn để ý chúng ta có thể chuyển sang làm việc ở những hình khác nhau trong cùng folder đấy.



Đầu tiên là chúng ta cắt lại cho ngay ngắn, bỏ những khoảng thừa trắng đi bằng cách vào Tab Edit, nhìn xuống dưới phần Geometry, chọn Crop.



Khi chọn crop, ACDSee sẽ chuyển sang chế độ Crop và có một ô Crop chạy ra, chúng ta kéo ô đấy đến những phần cần crop như thế này:



Sau khi chỉnh xong xuôi chúng ta nhấn Done. Bây giờ lần lượt chuyển sang các hình khác xem có cần crop không, nếu cần thì ta thực hiện tương tự. Những file ảnh kế tiếp nếu chúng ta vẫn cần phải crop thì ACDSee sẽ tự hiểu là khung crop giống với phần crop ở hình ban đầu. Điều này thuận tiện ở chỗ chúng ta sẽ có được những hình Crop có kích thước bằng nhau luôn.

Bây giờ chuyển sang hình CD, xem có cần phải quay lại cho ngay ngắn không. Mặc dù lúc scan mình đã ráng để cho ngay rồi tuy nhiên do nó hình tròn nên đôi khi cũng hơi lệch tí, như hình của mình cần phải cho cái hình quay sang bên trái một tí



Để rotate hình ta lại nhìn xuống tiếp phần Geometry và chọn Rotate. Khung Rotate sẽ hiện ra, chúng ta nhớ chọn Preserve Straightened Image. Ở hình của mình, mình muốn hình nghiêng sang bên trái một tí do vậy mình dùng chuột kéo thanh Straightening sang bên trái đến khi nào vừa mắt thì thôi. Như trong hình nó đang ngay ngắn ở vị trí 2.7 degrees left



Tuy nhiên sau khi nhấn Done, thì hình tổng thế lại bị thế này:



Bây giờ ta chỉ cần crop lại cho vuông vắn là được. Tuy nhiên để tránh bị những khoảng thừa như góc phải phía trên và góc trái phía dưới như trong hình, thì lúc scan hình CD ta nên chọn khoảng scan rộng hơn cái CD một tí, nhưng nhìn chung thế là tạm ổn rồi



2. Exposure/Lightning, Color, Sharpen, Noise (Chỉnh độ phơi nắng/ánh sáng, chỉnh màu, độ nét, và độ sạn)

Phần hiệu chỉnh của ACDSee cho ta rất nhiều lựa chọn chỉnh sửa các kiểu tuy nhiên đối với phạm vi các hình Scans của album thì chỉ 5 phần trên là đủ. Tuy vậy, vẫn tùy vào sở thích của từng người mà chúng ta tăng hoặc giảm thế nào đấy cho vừa mắt. Tuy nhiên khi thực hiện chúng ta nên thực hiện theo batch, tức là chọn tất cả các hình để thao tác một lúc thì lúc này các hình scan/chụp sẽ tương đồng nhau về mức độ ánh sáng, màu sắc, etc.

Bây giờ, đang từ tab Process, chúng ta chuyển sang tab Manage. Nhấn Ctrl + A để đánh dấu toàn bộ các file, chuột phải chọn Batch --> Batch edit như thế này (hoặc nhấn Ctrl + Alt + B):



Lúc này, bản Batch Edit sẽ hiện ra như sau:




Hiệu chỉnh giản đơn nhất là chọn 7. Exposure, chuyển sang tab Auto Levels và chọn Auto Contrast and Color.



Bây giờ có thể xem hiệu quả của trước và sau khi chỉnh Auto Contrast và Color trong phần Before Exposure hoặc After Exposure trong phần Preview, muốn xem sự thay đổi ở hình khác thì vào Image List và chọn hình khác.

Cầu kỳ hơn tí nữa thì có thể chọn chỉnh sửa mục số 9. Noise Removal (khử sạn) và mục số 10. Sharpening (tăng độ sắc nét)

Trong phần Noise Removal thì chỉ cần chọn Despeckle - Smooths the image là được rồi, tuy nhiên cái này cũng tùy vào hình, không phải hình nào cũng phải khử sạn, khử nhiều quá mất hết chi tiết của hình.

Trước Noise Removal:



Sau khi Noise Removal:



Phần Sharpening thì để default, nên sự thay đổi rất nhỏ.

Như vậy đơn giản chỉ là thế, nếu khó tính hơn nữa thì chúng ta cần phải chỉnh tay thêm màu sắc, ánh sáng. Tất nhiên việc này đòi hỏi con mắt nghệ thuật của từng người nữa.

Sau khi chỉnh xong, ta nhấn Next, rồi lại Next để lưu lại những file vừa chỉnh. Phần chỉnh sửa ảnh sơ bộ coi như xong.

Tất nhiên việc chỉnh theo batch thế này cũng có mặt lợi mặt hại. Lợi là nhanh gọn lẹ, hại là không phải lần nào cũng cho ra hình đẹp. Như vậy ta thử theo batch trước, so sánh từng hình trước và sau khi chỉnh kỹ càng. Nếu thấy không ổn thì chúng ta phải chỉnh từng hình một vậy. Bước chỉnh từng cái một thì mình nghĩ mọi người nên tự làm và tự đánh giá luôn nhé. Cách làm cũng tương tự, nhưng thay vì chọn Batch thì ta chọn từng file một thôi.

Bây giờ chúng ta tiến hành đổi tên lại các file scans chứ đừng nên để tên file như lúc scan ra. Thường mình hay đổi như sau

- Nếu là booklet thì đánh dấu hết các file booklet theo thứ tự từ trang đầu đến trang cuối, nhấp chuột phải và chọn rename, windows7 sẽ rename toàn bộ những file được chọn theo thứ tự từ đầu đến cuối luôn. Thường mình hay dùng tên các file đấy là Booklet luôn.

- Nếu là CD thì đặt luôn tên CD.jpg

- Bìa sau: Back.jpg

- Mặt trong của bìa sau: Inlay.jpg


[right][size=1][url=http://forum.hdvnbits.org/showthread.php?p=84216]Copyright © HDVNBits Forum - Posted by ha[/url][/size][/right]
 
Phần 2: Chuẩn bị làm file Cover.jpg (hoặc Folder.jpg)

Bộ file ảnh scans/chụp trong thư mục Artwork coi như xong, bây giờ chúng ta làm tiếp file hình bìa để cho chung vào với các file FLAC.

Mục đích của hình bìa này là để cho các chương trình chơi nhạc hoặc các đầu HD Player nó hiểu và hiện lên trên màn hình do vậy chúng ta chỉ cần kích thước file này nhỏ thôi để load không lâu, 500*500px là vừa đẹp.

Do file này chúng ta sẽ làm từ file scan gốc ra, nên chúng ta có thể in LOGO vào nó mà giá trị của torrent chúng ta vẫn không thay đổi vì các file ảnh khác chúng ta vẫn giữ nguyên.

Như vậy chúng ta sẽ in LOGO L2Bits vào hình cover này (Cám ơn July16 đã tạo một LOGO quá đẹp cho L2Bits).

Trước tiên phải mở cái hình cần tạo cover ra, đó chính là trang đầu tiên của Booklet

Cũng dùng công cụ Crop để cắt lại hình bìa như thế này:



Sau khi Crop thì khổ hình vẫn còn to, do vậy ta phải resize lại đúng kích cỡ mong muốn là 500*500. Vào phần Geometry, và chọn Resize.

Khi bảng Resize hiện ra, trong phần Pixels, đánh vào ô Width (bề rộng): 500, do mặc định là tỉ lệ hình sẽ được duy trì (Preserve Aspect Ratio) nên ô Height (bề cao) sẽ tự động nhảy xuống con số thích hợp. Như trong hình Height là 499



Sau khi nhấn vào nút Done, thì lưu file này thành một file khác trước, tránh việc nhầm lẫn chúng ta lại lưu đè lên file gốc, file này chúng ta bỏ chung với các file FLAC, đặt tên là Cover.jpg



Sau khi lưu xong xuôi, chúng ta chuyển sang tab Manage, chọn thư mục gốc để lôi file ấy ra



Nhấn đúp chuột vào file Cover, và lại chuyển sang tab Process --> Edit để tiếp tục hiệu chỉnh



Trong mục Add, nhấn vào Watermark, khi bảng Watermark hiện ra, Phần Watermark Image, browse đến file ảnh LOGO của L2Bits. Hình LOGO của L2Bits có thể lấy về từ đây:



Khung ảnh LOGO của L2Bits đã được xichlo để sẵn là 500*500 rồi do vậy chúng ta chỉ chọn vào mục Maintain aspect ratio when resizing là khung LOGO ấy sẽ tự phình ra bằng đúng với cái Cover luôn



Lưu ý phần Opacity phía dưới, đó chính là độ đậm nhạt của LOGO, chúng ta có thể gia giảm tùy theo từng cover, hiện giờ mình vẫn để theo file gốc là 100%. Thêm nữa, nếu muốn LOGO nằm ở góc trái thì chúng ta chỉ cần nắm kéo nó qua bên trái là được.

Nhấn Done để hoàn tất phần Watermark, lúc này ta sẽ save đè lên file Cover.jpg luôn.

Bây giờ công đoạn cuối cùng là cho kích thước file này bé lại, dưới 80 KB là vừa đẹp, vào kiểm tra xem kích cỡ file đang là bao nhiêu để trước khi quyết định là cho nó bé lại thế nào



Kích cỡ file đang là 105KB, muốn nó giảm xuống khoảng 30%. Chuyển sang Tab Manage, chọn vào file Cover ấy và nhấn Ctrl + F, bảng Batch Convert File Format hiện ra, trong phần Format, chọn JPEG



Nhấn tiếp vào Format Settings, mục Image Quality, cho xuống khoảng 60%



Nhấn OK và Next, Next nữa, Start Convert. Khi có bảng Overwrite hiện ra thế này



thì ta chọn Yes.

File thành phẩm cuối cùng, kích cỡ chỉ còn 39.6KB


[right][size=1][url=http://forum.hdvnbits.org/showthread.php?p=84217]Copyright © HDVNBits Forum - Posted by ha[/url][/size][/right]
 
 
Phần 3: Đưa file Cover.jpg vào các file FLAC

Cho đến mới vừa rồi thôi, nhờ bạn Kent mà mình mới biết là có thể add hình vào file FLAC, do vậy phần này chúng ta sẽ tiến hành đưa file cover.jpg vừa tạo xong vào các file FLAC. Chúng ta sẽ sử dụng dBpoweramp

Sau khi cài đặt dBpoweramp, chọn tất cả các file FLAC, nhấp chuột phải, chọn Edit ID-Tag


Bảng ID-TAG của dBpoweramp sẽ hiện ra:


Chọn Add Album Art --> Load (From File)


Đưa đường dẫn đến file Cover, dBpoweramp sẽ hiện ra tiếp đến phần mô tả file hình, tùy chọn đầu tiên bao giờ cũng là Bìa trước (Front Album Cover)


Chúng ta có thể add thêm bìa sau nếu thích. Khi add xong, bảng ID-TAG của dBpoweramp sẽ thành:


Bây giờ chỉ việc nhấn OK là xong bước này.

Demo cái hình foobar có LOGO


Phần 4: Tạo Fingerprint (MD5) cho các file FLAC

Để tạo file fingerprint, chúng ta dùng Trader's Little Helper. Sau khi cài đặt Trader's Little Helper, chúng ta vào Tab Checksum, chọn Create Checksum File


Bảng Create Checksum file hiện ra như sau:


Trong ô Root Folder, Browse đến thư mục chứa các file cần làm MD5, trong trường hợp này ta muốn làm cho các file FLAC thì chọn ngay thư mục chứa file FLAC.

Trong ô Files listed in checksum file to create, nhấn Add để bỏ các file FLAC vào


Nhấn OK và nhấn tiếp Create để Trader's Little Helper tạo các số MD5


Nhấn nút Save, đặt tên là Fingerprint.md5 và bỏ vào chung với thư mục chứa file FLAC. File này có thể mở được bằng Notepad, nội dung của nó như sau:

[right][size=1][url=http://forum.hdvnbits.org/showthread.php?p=84222]Copyright © HDVNBits Forum - Posted by ha[/url][/size][/right] 
 
 
Phần 5: Tạo các file Info.txt & Share!.txt hoặc Do not share elsewhere.txt
I. Tạo file Info.txt


File này bao gồm tất cả các thông tin về album mà bạn định up lên, thông thường ta sẽ dùng file này để làm description trong khi upload torrent, do vậy nếu ta chuẩn bị file này kỹ càng thì việc upload torrent sẽ nhanh chóng.

Những thông tin tối thiểu cần phải có của file Info.txt thường là:
  • Tên Ca sĩ (Artist)
  • Tên album (Album)
  • Thể loại (Genre)
  • Ngày xuất bản đầu tiên (Original release date)
  • Ngày tái bản (Reissue date)
  • Hãng đĩa (Label)
  • Số catalog (Catalog Number)
  • Tracklist

Những thông tin này có thể lấy ngay trên vỏ CD, nhất là thông tin về hãng đĩa và Số Catalog. Những thông tin khác có thể lấy trên mạng.

Tracklist ta có thể dùng notepad mở file M3U ra để lấy và copy vào. Đối với album Việt thì chắc phải chịu khó ngồi gõ hoặc tìm trên mạng nếu muốn dùng tiếng Việt có dấu.

Ngoài ra những thông tin về người rip, chuẩn rip, có thể đưa vào thêm cũng được.

Vừa rồi mình để ý một số bác dùng NFO generator cho ra những bản NFO khá đẹp mắt, tuy nhiên nên chỉnh một số điểm chưa phù hợp. Ví dụ như:

Trích:
News Group(s)........: L2Bits
News Group ở đây có nghĩa là họ sử dụng Usenet và release bằng Usenet. Ta sử dụng tracker, và L2Bits là internal của HDVNBits tracker, nên chúng ta nên sửa lại sao đó cho đúng với tính chất của ta, có thể là:

Trích:
Contact: L2Bits@HDVNbits.Org

info.txt đơn giản nhất cho album của mình:

Trích:

Artist...............: Ted Nash
Album.............: Portraits in Seven Shades
Release date:...: February 2, 2010
Label..............: Jazz at Lincoln Center
Catalog #........: JALC 001

Tracklist:
01 - Monet
02 - Dali
03 - Matisse
04 - Picasso
05 - Van Gogh
06 - Chagall
07 - Pollock

Info.txt cầu kỳ hơn tí nữa:

Trích:

[_img]http://image.hdvnbits.org/graphic/images/2010/October/26/0DB1_4CC65850.jpg[/img_]

================================================== ============

Artist...............: Ted Nash
Album.............: Portraits in Seven Shades
Release date:...: February 2, 2010
Label..............: Jazz at Lincoln Center
Catalog #........: JALC 001

================================================== ============

Tracklist:
01 - Monet
02 - Dali
03 - Matisse
04 - Picasso
05 - Van Gogh
06 - Chagall
07 - Pollock

================================================== ============
Ripped by: hatng
Ripper.....: Exact Audio Copy 0.99pb5
Encoder....: FLAC 1.2.1
Covers.....: All Scans at 300 dpi
Included...: M3U, CUE, LOG (100% securely & accurately ripped)
================================================== ============

Review By DAVID ADLER (Allaboutjazz.com)

[quote_]The Jazz at Lincoln Center Orchestra (JLCO) is often derided as a bastion of conservatism, although it's not clear what is conservative about an epic like trumpeter Wynton Marsalis' Congo Square (Blue Note, 2007), with its volleys of Ghanaian percussion and ensemble-singing in the Ga and Fante dialects. For that matter, the JLCO accommodates boundary-pushing musicians like Ted Nash, who holds a multi-woodwinds chair while still doing offbeat work with the likes of bassist Ben Allison and pianist Frank Kimbrough—not to mention his own groups, including Odeon and Still Evolved.

Portrait in Seven Shades is Nash's entry as an JLCO resident composer and the focus here is avowedly European (a stark contrast with Congo Square's Africa via New Orleans). Each of the seven movements takes inspiration not only from a particular painter, but also from a set of specific canvases in that artist's oeuvre, as explained in the CD booklet. The orchestration points to Duke Ellington and Gil Evans in roughly equal measure, although hard-bitten blues vocabulary plays an overt role, most notably in Dan Nimmer's swinging piano trio setup on "Matisse." Perhaps most striking is the unsettled 13/8 meter and smeary high-register brass of "Dali," which apportions solo space between trumpeter Marcus Printup, drummer Ali Jackson and Nash on alto saxophone.

JLCO head and star trumpeter Wynton Marsalis follows trombonist Vincent Gardner with a fiery statement on the multi-sectioned, cubist-inspired "Picasso." Gardner returns for a romantic, Johnny Hartman-esque vocal feature—something altogether new in Nash's writing—on the ballad "Van Gogh," again offset by Marsalis as the featured horn. Later, jittery swing and tumbling swirls of eighth notes set the stage for the closing "Pollock." Only "Chagall," with accordionist Bill Schimmel, violinist Nathalie Bonin and tubaist Wycliffe Gordon articulating Jewish/Eastern European themes, seems a bit strained and obvious in trying to connect sound and subject matter. The other movements leave more to the imagination. Listeners are free to read Nash's lucid explanations in the notes or simply let the music connect the dots. [/quote_]


L2Bits@HDVNbits.org
Thông tin review về album, nhất là các album nhạc ngoại thì có thể lấy ở rất nhiều trang, ngoại trừ google là nguồn tìm chính, thì những trang khác mình thường hay vào như:


II. Tạo file Share!.txt hoặc Do not share elsewhere.txt


Ngoài ra, do tính chất phổ cập của âm nhạc và thiển ý của người rip mà có người thích nhạc của mình được phổ biến nhiều nơi hoặc không muốn bản rip của mình lan tràn rộng rãi, như vậy để thể hiện tinh thần như vậy chúng ta sẽ tạo 1 trong 2 file sau:

- share!.txt: nếu bạn muốn album của bạn được share khắp nơi

hoặc

- Do not share elsewhere.txt: nếu bạn không muốn bản rip của bạn được share


Để làm file này chỉ cần right click vào khoảng trắng nào đấy rồi New -> text document, và đặt tên theo đúng nguyện vọng của mình. Xong rồi chúng ta mở file đấy ra và cho nội dung gì đó bất kỳ vào. Không nên để file này trống vì một số chương trình torrent sẽ tự động không download những file trống, mình thường đề vào "L2Bits@HDVNBits.ORG" trong file đấy luôn



Lưu ý: Đối với tất cả các album VN up lên tracker đều phải kèm theo dòng chữ

ĐỀ NGHỊ KHÔNG UPLOAD NGOÀI HDVNBITS DƯỚI BẤT KỲ HÌNH THỨC NÀO

trong phần cuối của file Info.txt và phải có file do not share elsewhere.txt trong thư mục chính

Như vậy là xong bước chuẩn bị, bây giờ chúng ta xem lại xem đã đủ các file chưa và chuẩn bị tạo torrent upload lên tracker:





[right][size=1][url=http://forum.hdvnbits.org/showthread.php?p=84222]Copyright © HDVNBits Forum - ha's Signature[/url][/size][/right]


[right][size=1][url=http://forum.hdvnbits.org/showthread.php?p=84217]Copyright © HDVNBits Forum - ha's Signature[/url][/size][/right]